""
1
Họ và tên
Điện thoại
Nhập nội dung nếu cần,chúng tôi sẽ liên lạc lại ngay.
0 /
Previous
Next

Sinh trắc vân tay là gì

Tin Khoa Học

Vân tay học

Vân tay học (hay khoa học về dấu vân tay) là một ngành nghiên cứu về những đặc điểm, các quy luật của dấu vân tay con người từ đó có thể phát hiện được những tố chất, tài năng tiềm ẩn bên trong của con người đó.

Như chúng ta đã biết, các ngón tay và ngón chân chúng ta có những đường vằn, những đường này xuất hiện ở khoảng 19 tuần trong thai kỳ cùng với sự phát triển của não bộ và đường xương sống. Trong giai đoạn này những nếp gấp dần định hình trong não và những nếp nhăn này phản chiếu ở dấu vân tay. Sự khác nhau ở các vùng não sẽ phản ánh trên dấu vân tay ở 10 ngón tay của chúng ta. Thế nên dấu vân tay là sự phản chiếu DNA ra bề ngoài cơ thể, dấu vân tay là duy nhất và sẽ không thay đổi. Xác suất hai cá nhân – thậm chí ngay cả anh em (hoặc chị em) sinh đôi cùng trứng – có cùng một bộ dấu vân tay là 1 trên 64 tỉ. Ngay cả các ngón trên cùng bàn tay cũng có vân khác nhau. Dấu vân tay của mỗi người là không đổi trong suốt cuộc đời. Kể cả khi chúng ta làm phẫu thuật thay da ngón tay, nhưng chỉ sau một thời gian dấu vân tay lại được hồi phục như ban đầu.

Khám phá bí ẩn đường đời qua dấu vân tay

Khoa học về dấu vân tay hay Vân tay học được Francis Galton khởi xướng vào cuối thế kỉ thứ XIX. Từ đó đến nay nó được phát triển mạnh mẽ nhờ một đội ngũ hùng hậu các nhà di truyền học và sinh vật học. Năm 1880, Henry Fault đưa ra lí luận về số lượng vân tay RC (Ridge Count) để đánh giá mức độ phụ thuộc của vân tay vào gen di truyền.

Các nhà bác học cho rằng dấu vân tay được hình thành dưới tác động của hệ thống gen di truyền mà thai nhi được thừa hưởng và tác động của môi trường thông qua hệ thống mạch máu và hệ thống thần kinh nằm giữa hạ bì và biểu bì. Các tác động đó là sự cung cấp ôxy, sự hình thành các dây thần kinh, sự phân bố các tuyến mồ hôi, và sự thay đổi của các biểu mô… Điểm thú vị là mặc dù có chung một hệ thống gen di truyền nhưng vân tay ở mười đầu ngón tay của mỗi người là khác nhau. Năm 1868 nhà bác học Roberts chỉ ra rằng mỗi ngón tay có một môi trường phát triển vi mô khác nhau; ngoài ra ngón tay cái và ngón tay trỏ còn phải chịu thêm một vài tác động môi trường riêng. Vì vậy, vân tay trên mười đầu ngón tay của một cá nhân khác nhau. Hai anh em (chị em) song sinh cùng trứng có dấu vân tay khá là giống nhau nhưng vẫn có thể phân biệt được rõ dấu vân tay của từng người. Đó là vì tuy có cùng hệ thống gen di truyền và chia sẻ chung môi trường phát triển trong bụng mẹ nhưng do họ nằm ở vị trí khác nhau trong dạ con nên môi trường vi mô của họ khác nhau và do đó có dấu vân tay sẽ khác biệt.

Mối quan hệ giữa dấu vân tay và bộ não con người như thế nào?

Năm 1968 nhà bác học Holt đã minh chứng được rằng có thể dự đoán tương đối chính xác về tổng số lượng vân tay TRC (Total Ridge Count) và những mức độ phụ thuộc của chúng vào gen di truyền của mỗi người. Do vậy có thể coi TRC là một biểu hiện phụ trợ của hệ thống gen mà con người được thừa kế. TRC phản ánh gần đúng sự đóng góp của từng loại gen riêng biệt trong hệ thống gen vào việc hình thành một con người cụ thể. Đúng vậy, dấu vân tay được hình thành dưới tác động của hai yếu tố: hệ thống gen và môi trường, nên nó có thể phản ánh được quá trình hình thành và mỗi giai đoạn phát triển của thai nhi.

Dấu vân tay được sử dụng rộng rãi để nhận dạng mỗi cá nhân, hội chuẩn những chứng bệnh do di truyền và để phát hiện tiềm năng của con người.

Sử dụng dấu vân tay và vân chân để nhận dạng mỗi người đã được người Trung Quốc làm từ thế kỉ thứ XIV. Khi mỗi đứa trẻ ra đời, người Trung Quốc đã dùng mực bôi đen lên chân tay nó và in dấu trên một tờ giấy.

Người Anh bắt đầu sử dụng dấu vân tay một cách tình cờ vào tháng bảy năm 1858. Ngài William Herschen, một quan cai trị người Anh tại Ấn độ, do quá bức xúc với tính gian trá đã bắt thương gia bản xứ là Rajyadhar Konai in dấu bàn tay lên mặt sau của tờ hợp đồng.

Vào nửa sau của thế kỉ XIX, Richard Edward Henry của Scotland Yard (cơ quan an ninh của Anh) đã phát triển phương pháp phân loại và nhận dạng dấu vân tay. Phương pháp này được Francis Galton cải tiến vào năm 1892 và được sử dụng làm cơ sở thực nghiệm với độ tin cậy cao. Hầu như song song  với hệ thống phân loại vân tay của người Anh, Juan Vucetich đã tạo ra một hệ thống phân loại khác cho các nước dùng tiếng Tây Ban Nha. Ngày nay, trên InterPol sử dụng cả hai hệ thống phân loại trên. Ở Mỹ có nhiều hệ thống phân loại và xử lí thông tin vân tay. Tuy nhiên, có thể phân loại vân tay theo ba kiểu chính: xoáy tròn, móc và vòm. Ngoài ra, mỗi kiểu còn được phân theo độ nghiêng: 0, 45, 90 và 135 độ.

Việc sử dụng dấu vân tay để nhận dạng được áp dụng rộng rãi trong đời sống của các nước công nghiệp phát triển. Dấu vân tay không chỉ sử dụng trong lĩnh vực hình sự mà còn được sử dụng trong việc xác minh nhân thân của cá nhân khi truy cập mạng hoặc mở khoá; một số ngân hàng đã bắt đầu thanh toán thẻ ATM sử dụng máy đọc vân tay.

Trong y học, dựa trên hình dạng vân tay đặc trưng, người ta phát hiện ra những bệnh do sai lệch gen như hội chứng Down, hội chứng ba nhiễm sắc thể 18, ba nhiễm sắc thể 13, sai lệch nhiễm sắc thể giới tính XXX, XXY…

Trong các xã hội công nghiệp hiện đại, vân tay học còn trợ giúp bố mẹ trong việc phát triển năng khiếu và hạn chế hoặc khắc phục phần nào những khiếm khuyết của con bằng cách phân tích dấu vân tay để dự báo tiềm năng, nhận biết những nét tính cách được kế thừa bằng con đường di truyền. Phân tích tiềm năng qua dấu vân tay chỉ có thể giúp bố mẹ và con cái nhận biết khả năng còn tiềm ẩn của con cái, tiềm năng khác với tài năng thực sự. Nhận dạng tiềm năng không thể thay thế quá trình rèn luyện để phát triển tiềm năng thành khả năng và tài năng.

 

""
1
Họ và tên
Điện thoại
Nhập nội dung nếu cần,chúng tôi sẽ liên lạc lại ngay.
0 /
Previous
Next

Sinh trắc vân tay là gì

Tin Khoa Học